Bầu phanh hành trình thường và hành trình dài cùng số loại tạo ra cùng một lực đẩy cần ở cùng áp suất khí. Khác biệt nằm ở hành trình: bầu phanh hành trình dài cho thêm khoảng nửa inch hành trình sử dụng được trước khi màng chắn hết chuyển động hiệu dụng, nghĩa là có thêm khoảng dự phòng trước khi mòn má phanh, giãn nở tang trống và trôi cần điều chỉnh tự động khiến phanh bị lệch điều chỉnh. Bạn nhận diện bầu phanh hành trình dài qua cổng nạp khí hình vuông và ký hiệu hành trình được dập nổi, và hai loại này không bao giờ được lắp lẫn trên cùng một trục.
Số loại (type) nghĩa là gì, và không cho biết điều gì
Con số được dập trên bầu phanh - Type 12, 16, 20, 24, 30, 36 - là diện tích màng chắn hiệu dụng xấp xỉ tính bằng inch vuông. Áp suất khí tác động lên màng chắn đó đẩy cần ra ngoài; cần đẩy làm quay cần điều chỉnh tự động, cần này xoay trục cam chữ S và ép guốc phanh vào tang trống. Vì đây là hệ thống khí nén, lực đơn giản bằng áp suất nhân diện tích hiệu dụng, nên Type 30 ở khoảng 100 psi tạo ra lực cần đẩy khoảng 2.500 đến 3.000 lb ở đầu hành trình, và giảm dần khi cần duỗi ra và màng chắn cuộn khỏi tấm áp lực.
Điều mà số loại không cho biết là hành trình. Type 30 hành trình thường và Type 30 hành trình dài có cùng diện tích danh định và cùng kiểu lắp đặt. Chúng không thể thay thế cho nhau trong hồ sơ bảo dưỡng hay tiêu chí kiểm định, vì hành trình tối đa và giới hạn điều chỉnh lại là khác nhau. Nếu cần ôn lại cách phân loại kích thước và khớp với tải trọng trục, xem bài giải thích kích thước bầu phanh.
Cách nhận diện bầu phanh hành trình dài
- Cổng nạp khí hình vuông. Từ giữa thập niên 1990, các bầu phanh hành trình dài chế tạo theo FMVSS 121 được nhận diện qua cổng nạp khí hình vuông ở phía làm việc, trong khi bầu phanh hành trình thường dùng cổng hình tròn. Đây là cách kiểm tra bằng mắt nhanh nhất khi ở gầm xe.
- Nhãn nhận diện. Bầu phanh hành trình dài có nhãn hình thang hoặc vuông, hoặc ký hiệu dập trên đai kẹp hoặc vỏ không áp lực, ghi loại và mức hành trình định mức. Một số có chữ "LS" hoặc ghi số hành trình bằng inch.
- Mã phụ tùng. Phương pháp đáng tin cậy nhất. Tra chéo mã số với catalog OE - Bendix, Wabco/ZF, Knorr-Bremse, Haldex, Meritor và MGM đều công bố mức hành trình theo mã phụ tùng.
- Bảng thông số gốc của xe. Với xe chưa từng thay bầu phanh, thông số gốc chính là câu trả lời.
Cẩn thận với các bầu phanh tái chế, sơn lại hoặc lắp nhầm đai kẹp. Một vỏ tái chế có thể mang đai hoặc nhãn của bầu khác, và ký hiệu bị sơn đè lên rất dễ đọc nhầm. Nếu nhãn không đọc được, hãy coi bầu phanh đó là không xác định và thay mới thay vì đoán mò áp dụng giới hạn nào.
Giới hạn hành trình: hành trình thường so với hành trình dài
Các số liệu dưới đây theo bảng tra bầu phanh kiểu kẹp lâu đời mà thanh tra đường bộ vẫn dùng. Hành trình tối đa là giới hạn cơ khí của bầu phanh; giới hạn điều chỉnh lại là mức hành trình mà tại đó phanh được coi là lỗi và phải điều chỉnh hoặc sửa chữa.
| Type | Hành trình tối đa thường | Giới hạn điều chỉnh lại thường | Hành trình tối đa dài | Giới hạn điều chỉnh lại dài |
|---|---|---|---|---|
| 12 | 1-3/4 | 1-3/8 | 2-1/2 | 1-3/4 |
| 16 | 2-1/4 | 1-3/4 | 2-1/2 | 2 |
| 20 | 2-1/4 | 1-3/4 | 2-1/2 | 2 |
| 24 | 2-1/4 | 1-3/4 | 2-1/2 | 2 |
| 30 | 2-1/2 | 2 | 3 | 2-1/2 |
| 36 | 3 | 2-1/4 | - | - |
Cũng tồn tại một số ít bầu phanh Type 24 hành trình siêu dài định mức 3 inch, với giới hạn riêng. Luôn xác minh theo tiêu chí ngừng vận hành hiện hành và ký hiệu trên chính bầu phanh trước khi ghi biên bản cho xe. Bài bảng giới hạn điều chỉnh phanh của chúng tôi bao gồm đầy đủ các kiểu bulông và rotochamber.
Vì sao hành trình dài mang lại khoảng dự phòng điều chỉnh
Hành trình phanh không phải con số cố định. Khi má phanh mòn, cần điều chỉnh tự động sẽ bù lại độ hở, nhưng nó chỉ điều chỉnh giữa các lần đạp phanh và có thể chậm lại nếu ly hợp bên trong bị mòn hoặc cần điều chỉnh bị khô. Nhiệt độ cũng ảnh hưởng: tang trống nóng sẽ giãn nở, nên cùng một phanh có hành trình 1-3/4 inch khi nguội có thể có hành trình dài hơn đáng kể sau một đoạn dốc dài. Thêm vào đó là bạc trục cam hơi mòn hoặc chốt nối cần đẩy bị giãn thì khoảng dự phòng sẽ cạn dần.
Thêm nửa inch của bầu phanh hành trình dài hấp thụ những biến số đó. Nó không làm phanh mạnh hơn và không thay thế cho việc điều chỉnh - nó chỉ có nghĩa là phanh đạt giới hạn điều chỉnh lại muộn hơn trong vòng đời má phanh. Điều này quan trọng về mặt vận hành, vì xe bị ngừng lưu hành khi 20 phần trăm trở lên số phanh dịch vụ bị lỗi, và chỉ một bầu phanh vượt hành trình cũng có thể là yếu tố đẩy một xe đầu kéo-rơ moóc vượt ngưỡng đó.
Đánh đổi
Hành trình dài hơn đồng nghĩa tiêu tốn nhiều thể tích khí hơn mỗi lần đạp phanh. Trên hệ thống bảo dưỡng tốt với máy nén khỏe cắt áp ở khoảng 120 đến 135 psi và đóng lại khoảng 100 đến 110 psi, đó không phải vấn đề. Trên xe có máy nén yếu, đường xả bị tắc hoặc rò rỉ vặt, nhu cầu khí tăng thêm sẽ biểu hiện thành thời gian hồi phục chậm hơn, máy nén chạy gần như liên tục và trong trường hợp xấu nhất là đèn báo áp thấp sáng ở khoảng 60 psi khi đạp phanh liên tục.
Đánh đổi thứ hai là lực ở cuối hành trình. Mọi bầu phanh màng chắn đều giảm lực khi cần duỗi ra, vì màng chắn cuộn khỏi tấm áp lực và diện tích hiệu dụng thu nhỏ lại. Bầu phanh hành trình dài giữ được lực sử dụng được xa hơn so với bầu thường, nhưng phần cuối hành trình của bất kỳ bầu phanh nào cũng yếu. Không bao giờ coi hành trình tối đa là hành trình làm việc.
Không bao giờ lắp lẫn loại trên cùng một trục
Hai bầu phanh trên cùng một trục phải khớp nhau về loại, mức hành trình, chiều dài cần đẩy và độ chỉnh chốt nối. Bầu thường một bên và bầu hành trình dài bên kia là lỗi, không phải là cách tắt.
Bầu phanh lắp lẫn sẽ hoạt động khác nhau khi má phanh mòn dần. Một bên đạt hành trình hiệu dụng sớm hơn, nên mô-men phanh và thời điểm tác động lệch nhau, khiến xe bắt đầu bị kéo lệch khi phanh vừa phải trong khi má phanh mòn không đều. Vấn đề thứ hai là kiểm định: giới hạn khác nhau theo từng bên, nên kỹ thuật viên áp dụng cùng một con số cho cả hai bánh sẽ hoặc loại bỏ một phanh tốt hoặc thông qua một phanh xấu. Nếu bạn chuyển một trục sang hành trình dài, hãy chuyển cả hai bánh cùng lúc với phụ tùng khớp nhau và kiểm tra lại hình học cần đẩy sau đó.
Đo hành trình đúng cách
Chèn bánh xe. Lên áp hệ thống đến điểm cắt của bộ điều áp, tắt máy, nhả phanh đỗ và để áp suất bình ổn định khoảng 90 đến 100 psi. Với phanh đã nhả, đánh dấu cần đẩy sát mặt bầu phanh, sau đó nhờ người phụ giữ đạp phanh dịch vụ hết mức trong khi bạn đo khoảng cách dấu di chuyển. So sánh con số đó với giới hạn của loại bầu và mức hành trình tương ứng. Chi tiết đầy đủ về kỹ thuật và các lỗi đo thường gặp có trong hướng dẫn đo hành trình cần đẩy.
Thay bầu phanh
Khi đặt hàng, hãy khớp năm yếu tố: số loại, mức hành trình, hướng đặt cổng, chiều dài cần đẩy, và kiểu cùng khoảng cách bulông lắp. Trên bầu phanh kép kiểu piggyback như 30/30 hay 24/24, mức hành trình dài chỉ áp dụng cho phía dịch vụ; phía lò xo vẫn phải được khóa lại trước khi tháo. Thay theo cặp trên trục, giữ nguyên mức hành trình gốc trừ khi bạn cố ý nâng cấp cả trục, và ghi lại thay đổi để lần kiểm định sau áp dụng đúng giới hạn.
Cần linh kiện, không chỉ câu trả lời?
Máy nén phanh khí và bộ dụng cụ sửa chữa chuẩn OE, được sản xuất và kiểm tra theo tiêu chuẩn xe thương mại.
Mua linh kiện VADENXuất bản bởi VADEN Original. Các liên kết sản phẩm trỏ đến danh mục chính thức của nhà sản xuất. Thông số kỹ thuật mang tính tổng quát — luôn xác nhận các con số theo sổ tay bảo dưỡng của xe bạn.